Tài liệu nổi bật

Ấn phẩm
Lịch sử văn hóa Trung Quốc: ba trăm đề mục
(Văn hóa - Thông tin, 1999) Trần Ngọc Thuận (dịch)
Ấn phẩm
Đánh giá khả năng độ chính xác tăng dày khống chế ảnh đối với khối ảnh vệ tinh spot 6, 7 lập thể phục vụ công tác cập nhật cơ sở dữ liệu nền địa lý tỷ lệ 1:10.000
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2023-03) Cao Xuân Triều; Phan Trung Hiếu; Nguyễn Thị Trang Nhung; Lê Ngọc Thúy; Phạm Tuyết Minh
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu đánh giá độ chính xác tăng dày khống chế ảnh của khối ảnh vệ tinh SPOT 6, 7 phục vụ cập nhật cơ sở dữ liệu nền địa lý ở tỷ lệ 1:10.000 (cả về mặt phẳng và độ cao). Khu vực tiến hành nghiên cứu là một khối ảnh gồm 04 cảnh ảnh vệ tinh SPOT 7 (02 mô hình lập thể), 98 điểm khống chế ảnh. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Để đạt yêu cầu độ chính xác cập nhật cơ sở dữ liệu nền địa lý tỷ lệ 1:10.000 (khoảng cao đều cơ bản 10 m) về mặt phẳng tối thiểu cần 6 điểm, cả mặt phẳng và độ cao tối thiểu cần 14 điểm khống chế ảnh tổng hợp (X, Y, H), với số chênh về vị trí mặt phẳng và độ cao (giữa giá trị đo ngoại nghiệp và giá trị tăng dày) của các điểm kiểm tra theo độ tin cậy CE95 và LE95, độ tin cậy 95% lần lượt là 2,91 m - 4,76 m và 2,37 m - 3,27 m.
Ấn phẩm
Ảnh hưởng của tư thế vệ tinh đến độ chính xác PPP khi dùng sản phẩm CODE
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2023-03) Nguyễn Ngọc Lâu; Nguyễn Thị Thanh Hương
Trong gói sản phẩm của CODE hỗ trợ cho PPP-AR GPS+GALILEO có thông tin quỹ đạo vệ tinh với tần suất 5 phút và thông tin về tư thế vệ tinh với tần suất 15 phút. Tuy nhiên dùng những sản phẩm này không cho chúng tôi độ chính xác PPP tốt nhất [18]. Để tìm hiểu xem sự cố này có phải là do tư thế vệ tinh gây ra, chúng tôi đã xử lý PPP 90 ngày dữ liệu từ 01/01/2022 đến 31/03/2022 của 4 trạm GNSS thường trực tại khu vực Đông Nam Á theo 2 phương án thay thế file tư thế vệ tinh của CODE: dùng mô hình thông thường và file tư thế vệ tinh của GFZ với tần suất 30 giây. Kết quả cho thấy độ chính xác PPP của 2 phương án là như nhau và cải thiện hơn khi dùng file tư thế vệ tinh của CODE lần lượt là (12, 27, 8)% tương ứng theo hướng Bắc, Đông và Độ cao. Độ chính xác cũng tương đồng với khi dùng sản phẩm của CNES. Vì vậy chúng tôi kết luận việc dùng file tư thế vệ tinh với tần suất 15 phút là không phù hợp vì nó làm giảm độ chính xác của PPP.
Ấn phẩm
Xu hướng phát triển phương pháp PPP dựa trên mạng lưới các trạm CORS
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2019-12) Hà Minh Hòa
Sự phát triển nhanh phương pháp PPP trong xử lý các dữ liệu GNSS trên cơ sở khai thác hiệuquả các trạm CORS là xu hướng đang được các nước nghiên cứu và phát triển từ năm 2000 dựatrên việc phát triển mạnh mẽ các mạng lưới các trạm CORS và sử dụng các dịch vụ của tổ chức IGS.Phương pháp PPP có ưu điểm là cho phép định vị nhanh điểm GNSS trong vòng 30’ với độ chínhxác ở mức dm đến cm. Đây là xu hướng cần phát triển ở Việt Nam để thúc đẩy công tác nghiên cứu,ứng dụng và giảng dậy về công nghệ GNSS ở Việt Nam.
Ấn phẩm
Nghiên cứu thuật toán phát hiện sai số hệ thống do chiết quang trong đo góc đứng của lưới không gian công trình kết hợp mặt đất - vệ tinh
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2019-12) Hoàng Ngọc Hà; Vũ Thái Hà
Trị đo mặt đất trong lưới kết hợp mặt đất – vệ tinh hiện nay chủ yếu là trị đo góc bằng và trị đo cạnh nghiêng. Với độ chính xác đo góc của các máy toàn đạc điện tử hiện đại, sai số đo góc cỡ ±1’’, hoàn toàn có thể đo thêm trị đo góc đứng làm tăng độ chính xác xác định độ cao cho dạng lướ ikhông gian kết hợp mặt đất – vệ tinh. Tuy nhiên, trong quá trình đo góc đứng không thể tránh khỏi nhiều nguồn sai số, đặc biệt là sai số hệ thống do ảnh hưởng của chiết quang. Trong bài báo đãnghiên cứu thuật toán phát hiện sai số hệ thống trong đo góc đứng, nhằm nâng cao độ chính xácxác định độ cao trong lưới không gian kết hợp mặt đất –vệ tinh. Việc nghiên cứu thuật toán bình sai này cả về phương diện lý thuyết và thực tiễn đã được thực hiện thành công và trình bày trong bài báo.
Ấn phẩm
Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật sử dụng công nghệ GNSS-RTK trong thi công xây dựng nhà siêu cao tầng ở Việt Nam
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2019-12) Trần Viết Tuấn; Diêm Công Trang
Nội dung của bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về một số giải pháp kỹ thuật cần ứng dụng khi sử dụng công nghệ GNSS-RTK để bố trí thi công xây dựng công trình nhà siêu cao tầng. Cơ sở lý thuyết, kết quả đo đạc thực nghiệm khi ứng dụng của các giải pháp kỹ thuật này nhằm nâng caokhả năng ứng dụng của công nghệ GNSS-RTK trong quá trình đảm bảo thi công các công trình xây dựng nhà cao tầng và siêu cao tầng ở Việt Nam.