Tài liệu nổi bật

Ấn phẩm
Lập bản đồ và đánh giá ô nhiễm tiếng ồn trong môi trường lao động dựa trên mạng nơ-ron hàm cơ sở xuyên tâm
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2023-06) Đặng Đỗ Lâm Phương; Phạm Văn Mạnh; Nguyễn Việt Thanh; Phạm Thái Minh; Nguyễn Thị Diễm My; Đỗ Thị Nhung
Kiểm soát tiếng ồn trong môi trường lao động là cần thiết cho sức khỏe con người và môi trường xung quanh. Mức độ tiếng ồn nguy hiểm, được coi là ngưỡng gây ra các vấn đề về tâm sinh lý cho người lao động. Mục đích của nghiên cứu này xây dựng bản đồ phân bố không gian mức độ tiếng ồn bằng số liệu đo được tính toán dựa trên mô hình tiếng ồn. Một khu công nghiệp sản xuất nhựa tại thành phố Hải Phòng đã được lựa chọn và mức áp suất âm thanh được đo tại 60 điểm riêng biệt tại khu công nghiệp. Các phép đo được tiến hành vào các khung giờ buổi Sáng (8h00 – 10h00) với mức độ tiếng ồn vào buổi sáng dao động từ 37,5 đến 95,2 dBA, buổi Trưa (11h30 – 13h30) dao động từ 17,0 đến 74,0 dBA và buổi Chiều (14h00 – 16h00) từ 38,7 đến 100 dBA. Dữ liệu mức tiếng ồn thu được của khu công nghiệp được lập bản đồ bằng mô hình mạng nơ-ron hàm cơ sở xuyên tâm (RBF). Kết quả chỉ ra rằng chất lượng môi trường lao động trong khu công nghiệp ở mức trung bình, có nghĩa là việc tiếp xúc với các mức độ này trong một thời gian dài có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người lao động. Đề xuất giải pháp khả thi để giảm mức độ tiếng ồn trong khu vực xuống các giá trị giới hạn cho phép nhằm nâng cao chất lượng môi trường lao động.
Ấn phẩm
Đánh giá tác động của dự án đầu tư đến khu dự trữ sinh quyển thế giới sử dụng thuật toán học máy và độ đo cảnh quan
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2023-06) Đỗ Thị Nhung; Phạm Anh Cường; Trương Quang Hải; Giang Văn Trọng; Phạm Hạnh Nguyên; Ngô Xuân Quý; Phạm Văn Mạnh
Phát triển kinh tế xã hội là một trong những nhân tác thúc đẩy mạnh mẽ và nhanh chóng nhất đến thay đổi sử dụng đất có tác động đến môi trường sống và mẫu dạng cảnh quan. Để dự đoán và giảm thiểu những tác động này, các nhà quy hoạch môi trường và quản lý bảo tồn cần có các công cụ và phương pháp để có thể sử dụng ở giai đoạn lập kế hoạch ban đầu. Nghiên cứu này điều tra và lựa chọn các chỉ số độ đo cảnh quan để đánh giá tác động của dự án phát triển du lịch đến môi trường sống, sự phân mảnh và kết nối sinh thái. Khác với các nghiên cứu trước đây tập trung vào việc sử dụng các chỉ số không gian đơn lẻ để mô tả sự phân mảnh cảnh quan, nghiên cứu này đề xuất Chỉ số lượng hóa phân mảnh cảnh quan tổng hợp (OLFI) để phân tích và đánh giá tính không đồng nhất về không gian và thời gian của sự phân mảnh cảnh quan ở Vườn quốc gia (VQG) Núi Chúa - Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Nghiên cứu sử dụng thuật toán học máy để phân loại LULC với độ chính xác tổng thể đạt 92,84% và hệ số Kappa là 0,90. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khi có dự án phát triển du lịch mức độ tác động tăng đáng kể đến cấu trúc cảnh quan của khu vực VQG Núi Chúa. OLFI được xây dựng như là một chỉ số mới để lượng hóa sự tác động của các dự án đầu tư hay những tác động của con người đối với cảnh quan Di sản thiên nhiên và là tài liệu tham khảo cho các mục đích bảo tồn, lập kế hoạch sử dụng đất ở các khu vực tương tự khác tại Việt Nam và trên thế giới.
Ấn phẩm
Đánh giá độ chính xác của mô hình độ sâu toàn cầu gebco2022 và topo-v25.1 trên biển đông
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2023-06) Nguyễn Văn Sáng; Đỗ Văn Mong; Nguyễn Thị Thanh Hương
Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá được độ chính xác của mô hình độ sâu đáy biển toàn cầu GEBCO2022 và TOPO-V25.1 trên Biển Đông. Để đánh giá độ chính xác, hai mô hình trên đã được so sánh với độ sâu đo trực tiếp để tính ra các yếu tố của độ lệch. Biểu đồ tần suất độ lệch được thiết lập. Tương quan giữa độ sâu đo trực tiếp và hai mô hình cũng được tính toán. Kết quả đánh giá cho thấy: Trên Biển Đông, mô hình độ sâu GEBCO2022 có độ chính xác là ±169,1 m, tốt hơn mô hình TOPO-V25.1 có độ chính xác là ±172,4 m. Độ lệch giữa các mô hình với độ sâu đo trực tiếp tuân theo quy luật ngẫu nhiên. Tương quan của hai mô hình này với độ sâu đo trực tiếp khá tốt. Các điểm có độ lệch lớn nằm ở những khu vực có địa hình đáy biển phức tạp, nhiều đảo ngầm, độ dốc lớn, địa hình đáy biển thay đổi đột ngột. Ở những khu vực địa hình đáy biển bằng phẳng, độ lệch nhỏ. Độ chính xác của mô hình GEBCO2022 và TOPO-V25.1 tốt ở thềm lục địa, nơi có địa hình đáy biển bằng phẳng, độ sâu từ -10 m đến -200 m. Ở khu vực sườn lục địa, nơi có độ dốc lớn, độ sâu trong khoảng từ -200 m đến -2000 m thì độ lệch trung phương tăng lên, đạt cực đại (±230 m) trong khoảng độ sâu (-1000 m ÷ -2000 m). Độ lệch trung phương giảm xuống ±120 m đối với vùng trũng sâu của Biển Đông.
Ấn phẩm
Luật doanh nghiệp
(Thống kê, 2001) Lê Văn Hưng (chủ biên)
Ấn phẩm
Văn minh Hoa Kỳ
(Thế giới, 2002) Jean - Pierre Fichou; Dương Linh (dịch)