Tài liệu nổi bật
Ấn phẩm
Xác định độ chính xác trọng lực của mô hình trường trọng lực toàn cầu sgg-ugm-2 khu vực miền nam Việt Nam
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2023-06) Bùi Thị Hồng Thắm; Đỗ Thị Hoài; Đinh Xuân Mạnh
Độ chính xác của mô hình trường trọng lực toàn cầu SGG-UGM-2 được xác định dựa trên số liệu trọng lực đo đạc chi tiết tại khu vực miền Nam, Việt Nam theo một quy trình chặt chẽ và rõ ràng. Số liệu trọng lực đo đạc chi tiết được chuẩn hóa về hệ triều không, đây cũng là hệ triều của số liệu trọng lực khai thác từ mô hình trường trọng lực toàn cầu SGG-UGM-2. Quá trình tính toán cho thấy, trong số 1540 điểm trọng lực tại khu vực thực nghiệm, có 16 điểm (tương đương với khoảng 1% tổng số điểm) không đạt chất lượng nên bị loại bỏ, 1524 điểm trọng lực có chất lượng đạt yêu cầu tham gia vào việc xác định độ chính xác mô hình trường trọng lực toàn cầu SGG-UGM-2. Kết quả cho thấy, mô hình trường trọng lực toàn cầu SGG-UGM-2 có độ chính xác là ±4,762 mgal. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà khoa học và các nhà quản lý khi sử dụng mô hình này tại khu vực thực nghiệm. Các bước xác định độ chính xác của mô hình trường trọng lực toàn cầu trong nghiên cứu này hoàn toàn có thể áp dụng đối với các mô hình và các vùng nghiên cứu khác.
Ấn phẩm
Ứng dụng thuật toán LightGBM trong phân loại lớp phủ huyện đảo Lý Sơn, Việt NamỨng dụng thuật toán LightGBM trong phân loại lớp phủ huyện đảo Lý Sơn, Việt Nam
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2023-06) Vương Tấn Công; Phạm Hoàng Hải
Hệ thống đảo của Việt Nam có phần quan trọng trong việc xây dựng những tiền đồn vững chắc để bảo vệ an ninh chính trị, độc lập chủ quyền của quốc gia trên biển và là thế bàn đạp phát triển kinh tế biển. Tại khu vực miền trung, huyện Đảo Lý Sơn có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng. Nghiên cứu này đề ứng dụng mô hình phân loại LightGBM sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh SPOT trong phân loại lớp phủ sử dụng đất.
Kết quả cho thấy mặc dù với số lượng mẫu nhỏ, độ chính xác của mô hình (OA = 0,9). Mô hình huấn luyện được sử dụng cho phân loại lớp phủ sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu, làm cơ sở cho đánh giá tổng hợp tài nguyên thiên nhiên tại huyện Đảo Lý Sơn
Ấn phẩm
Nghiên cứu ứng dụng viễn thám và gis theo dõi quá trình đô thị hóa thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2023-06) Nguyễn Văn Thái; Trần Xuân Trường; Nguyễn Như Hùng; Lê Thanh Nghị
Bài báo trình bày nghiên cứu chiết tách các thông tin: Chỉ số thực vật chuẩn hóa - NDVI (Normalized Difference Vegetation Index), Chỉ số đô thị - NDBI (Normlized Difference Built-up Index), Chỉ số khác biệt về bề mặt không đồng nhất - NHFD (Non-Homogenous Feature Difference) từ ảnh vệ tinh LandSat đa thời gian và GIS thành lập bản đồ phân bố không gian đô thị các thời điểm 2010, 2015 và 2020 thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy tư liệu viễn thám đa thời gian góp phần theo dõi và đánh giá quá trình mở rộng không gian đô thị khá chính xác, phù hợp với thực tế và quy hoạch phát triển vùng của thành phố Phủ Lý. Cụ thể là việc mở rộng không gian đô thị trong các năm 2010 - 2015 và phát triển vùng lõi 2015 - 2020. Tốc độ đô thị hóa trong vòng 10 năm qua của thành phố cũng ở mức cao - khoảng 40%.
Ấn phẩm
Nghiên cứu dự báo biến động bề mặt không thấm khu vực thành phố hồ chí minh từ dữ liệu viễn thám và GIS
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2023-06) Phạm Văn Tùng; Trịnh Lê Hùng; Nguyễn Văn Trung; Nguyễn Văn Trung; Vũ Xuân Cường
Sự gia tăng diện tích bề mặt không thấm đã dẫn đến những tác động tiêu cực tới môi trường đô thị, trong đó có sự gia tăng nguy cơ ngập lụt, suy giảm diện tích thảm thực vật, hình thành đảo nhiệt đô thị. Bài báo này trình bày kết quả xây dựng mô hình dự báo biến động bề mặt không thấm khu vực thành phố Hồ Chí Minh từ dữ liệu viễn thám và GIS. Ảnh vệ tinh Landsat giai đoạn 2002 – 2022 được sử dụng để phân loại bề mặt không thấm, chiết xuất các lớp thông tin về lớp phủ thực vật, nhiệt độ bề mặt, kết hợp với các lớp dữ liệu về địa hình, dân cư để mô hình hóa và dự báo biến động bề mặt không thấm. Kết quả nhận được trong nghiên cứu có thể được sử dụng hiệu quả phục vụ công tác quy hoạch đô thị, giảm thiểu ảnh hưởng của quá trình gia tăng bề mặt không thấm đến môi trường khu vực đô thị.
Ấn phẩm
Nâng cao độ chính xác mô hình số độ cao dem bằng mạng nơ ron hopfield với tập dữ liệu điểm độ cao bổ sung
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2023-06) Nguyễn Quang Minh; Nguyễn Quang Minh; Hoàng Thị Thủy; Lã Phú Hiến; Nguyễn Văn Chức; Nguyễn Văn Chức
Bài báo đề cập đến việc cải thiện độ chính xác của mô hình số độ cao (Digital Elevation Model - DEM). Mặc dù, các thuật toán tái chia mẫu song tuyến, bicubic, Kriging và mô hình tăng độ phân giải bằng mạng nơ ron Hopfield (HNN) cho phép nâng cao độ chính xác cho mô hình số độ cao, đặc biệt là mô hình số độ cao từ các nguồn dữ liệu toàn cầu như SRTM, ASTER, v.v., sự tham gia của dữ liệu độ cao bổ sung cũng có thể cải thiện hơn nữa độ chính xác của mô hình số độ cao. Bài báo này đề xuất một mô hình HNN với sự tham gia của hàm hiệu chỉnh độ cao và sự thay đổi của điều kiện ràng buộc. Mô hình được thử nghiệm đánh giá tại Cao Bằng với dữ liệu DEM SRTM 30 m tại một khu vực có kích thước 1650 m × 1344 m, với 130 điểm độ cao được sử dụng để nâng cao độ chính xác và 64 điểm được sử dụng để đánh giá. Kết quả thử nghiệm cho thấy độ chính xác của DEM tăng lên tới 30% nhờ các điểm độ cao bổ sung.
Ấn phẩm
Automating the news : how algorithms are rewriting the media
(Harvard University Press, 2019) Nicholas Diakopoulos
1.Hybridization: Combining Algorithms , Automation, and People in Newswork - 2.Journalistic Data Mining - 3.Automated Content Production - 4.Newsbots: Agents of Information - 5.Digital Paperboys: Algorithms in News Distribution