Tài liệu nổi bật

Ấn phẩm
Thành lập nhanh bản đồ lũ bằng chỉ số lũ khác biệt chuẩn hóa NDFI và chỉ số khác biệt lũ trong vùng thực vật thấp NDFVI sử dụng lợi thế của hệ thống Vietnam Data Cube
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2020-06) Lê Thị Thu Hằng; Phạm Minh Hải; Vũ Anh Tuấn; Nguyễn Hồng Quảng
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, việc có được một bản đồ lũ kịp thời và chính xác ngay khi thiên tai là thực sự cần thiết trong việc lập kế hoạch quản lý khẩn cấp nhằm giảm thiểu rủi ro thiên tai một cách hiệu quả. Nghiên cứu áp dụng một phương pháp lập bản đồ lũ lụt nhanh dựa trên hai chỉ số khác biệt lũ chuẩn hóa (NDFI – Normalized Difference Flood Index) và chỉ số khác biệt lũ trong vùng thực vật thấp (NDFVI - Normalized Difference Flood in short Vegetation Index) từ chuỗi dữ liệu của ảnh Radar khẩu độ tổng hợp (SAR – Synthetic Aperture Radar) Sentinel-1. Hai chỉ số này được tính toán, trên các cảnh ảnh trước lũ và trong lúc có lũ, từ đó lập bản đồ các khu vực ngập nước lũ và các khu vực có nước ngập thảm thực vật thấp bằng phương pháp phân ngưỡng. Dữ liệuSAR băng tần C của vệ tinh Sentinel-1 được sử dụng trong nghiên cứu này do đây là nguồn dữ liệu miễn phí và có tần suất chụp ảnh khá tốt (12 ngày). Tuy vậy, phương pháp cũng có thể được áp dụng cho tất cả các dữ liệu vệ tinh SAR băng C khác để tăng cao tần suất quan sát, một điều rất cần thiết trong theo dõi lũ. Áp dụng phương pháp trên khu vực thử nghiệm tỉnh Đồng Tháp năm 2018 cho thấy có độ tin cậy cao và hiệu quả của phương pháp qua việc đánh giá, so sánh với dữ liệu thực địa gồm 143 điểm. Hiện nay, toàn bộ ảnh Sentinel-1 đã được thu thập và liên tục cập nhật trong hệ thống Vietnam Data Cube do Trung tâm Vũ trụ Việt Nam vận hành cho phép áp dụng phương pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Ấn phẩm
Tính đến dị thường địa hình - đăng tĩnh khi xây dựng cơ sở dị thường trọng lực ở vùng núi cao
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2020-06) Hà Minh Hòa
Chúng ta thường sử dụng di thường Bouger để giải quyết bài toán nội suy các giá trị dị thường trọng lực vào grid của cơ sở dữ liệu trọng lực quốc gia. Điều kiện để sử dụng là các giá trị dị thường Bouguer phải thay đổi tương đối đồng đều và ma trận hiệp phương sai của nó là tuyến tính bậc nhất.Tuy nhiên ở các khu vực rừng núi cao (trên 1500 m), do hiệu ứng bù trừ đẳng tĩnh, các giá trị dị thường Bouger biến thiên đột ngột, không đảm bảo sự thay đổi tương đối đồng đều. Do đó trong trường hợp này chúng ta phải sử dụng các giá trị dị thường địa hình - đẳng tĩnh. Trong bài báo khoa học này, chúng ta sẽ phân tích ý nghĩa của dị thường địa hình - đẳng tĩnh.
Ấn phẩm
Quy chiếu trị đo sâu địa hình đáy biển dựa trên mô hình tính toán thủy triều và các mô hình mặt biển
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2020-06) Nguyễn Thị Hồng; Nguyễn Thanh Trang; Lương Thanh Thạch; Nguyễn An Định; Trần Văn Hải; Đỗ Văn Mong
Bài báo khoa học này trình bày phương pháp sử dụng mô hình tính toán thủy triều MIKE21 FDđể hiệu chỉnh thủy triều trong quy chiếu trị đo sâu địa hình đáy biển dựa trên mô hình mặt biển trung bình khu vực (MBTBKV98) và mô hình mặt biển thấp nhất khu vực (MBTNKV170) được công bố trong tài liệu [6]. Kết quả đánh giá độ chính xác hiệu độ sâu quy chiếu dựa trên mực nước quan trắc tại trạm nghiệm triều tạm thời ven bờ và mô hình tính toán thủy triều khu vực biển Hải Phòng đạt 0.034m; hiệu độ sâu quy chiếu dựa trên mực nước quan trắc tại trạm nghiệm triều và dựa trên mô hình MBTBKV98 kết hợp số liệu triều mô hình đạt 0.041 m, còn hiệu độ sâu quy chiếu dựa trên mặt biển thấp nhất tại trạm nghiệm triều và dựa trên mô hình MBTNKV170 kết hợp số liệu triều mô hình đạt 0.047m. Điều này cho thấy sử dụng mô hình tính toán thủy triều MIKE21 FD để hiệu chỉnh thủy triều trong quy chiếu các trị đo sâu địa hình đáy biển dựa trên các mô hình mặt biển hoàn toàn đáp ứng yêu cầu thành lập bản đồ địa hình đáy biển và hải đồ ở các dãy tỷ lệ trung bình và nhỏ hơn trên vùng biển Việt Nam.
Ấn phẩm
Nghiên cứu nâng cao hiệu quả công tác đo đạc, xử lý số liệu trắc địa trong thi công xây dựng nhà siêu cao tầng ở Việt Nam
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2020-06) Trần Viết Tuấn; Dương Thành Trung; Diêm Công Trang
Nội dung của bài báo trình bày kết quả nghiên cứu xây dựng thuật toán và chương trình máy tính nhằm nâng cao hiệu quả công tác đo đạc và xử lý số liệu trắc địa phục vụ thi công xây dựng công trình nhà siêu cao tầng.Kết quả đo đạc và xử lý số liệu thực nghiệm nhằm đánh giá khả năng ứng dụng và độ chính xác đạt được của phần mềm superHBDV1.0 khi bố trí thi công xây dựng nhà cao tầng và siêu cao tầng ở Việt Nam.
Ấn phẩm
Nghiên cứu đề xuất giải pháp hiệu chỉnh phản xạ phổ trên ảnh vệ tinh khi kết hợp sử dụng dữ liệu ảnh Landsat 8 và Sentinel 2
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2020-06) Hoàng Minh Hải; Kiều Thị Thảo; Hoàng Ngọc Huy; Vương Trọng Kha
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam việc sử dụng dữ liệu ảnh vệ tinh đa thời gian để tăng hiệu suất cập nhật dữ liệu đã và đang được thực hiện một cách phổ biến. Tuy nhiên, để chiết tách một cách chính xác thông tin đang nghiên cứu từ nhiều nguồn ảnh đa thời gian khác nhau thì điều kiện tiên quyết cần phải thực hiện đó là chuẩn hóa giá trị phản xạ phổ nhằm giảm thiểu các tác nhân của sự thay đổi giá trị phản xạ từ ảnh vệ tinh đa thời gian gây ảnh hưởng tới việc phát hiện biến đổi giá trị của các pixcel trên ảnh vệ tinh. Hai phương pháp chuẩn hóa giá trị phản xạ phổ là tuyệt đối và tương đối thường được áp dụng trong chuẩn hóa ảnh viễn thám để hiệu chỉnh các hình ảnh vệ tinh được chụp từ các thời điểm khác nhau và các vệ tinh khác nhau. Bài báo trình bày phương pháp phát hiện biến đổi đa biến IRMAD, một trong những phương pháp chuẩn hóa phản xạ phổ tương đối ưu việt so với vác phương pháp phát hiện biến đổi truyền thống trước đây vì nó bất biến đối với các phép biến đổi tuyến tính của cường độ ảnh gốc, không nhạy cảm với sự khác biệt. Do đó, phương pháp phát hiện biến đổi đa biến IRMAD đã được nghiên cứu rộng rãi từ các khía cạnh về lý thuyết và thực nghiệm trong những năm gần đây.
Ấn phẩm
Sự tham gia của người dân vào quản lý xã hội ở địa phương tại Việt Nam hiện nay
(Viện Nhà nước và Pháp luật. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 2022-09) Nguyễn Thu Trang
Bài viết trình bày khái quát nhận thức và cơ sở pháp lý cho sự tham gia của người dân vào quản lý xã hội ở địa phương tại Việt Nam. Đồng thời, đánh giá thực trạng sự tham gia của người dân vào quản lý xã hội ở địa phương thông qua việc tham chiếu Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh tại Việt Nam (PAPI). Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện.