Tài liệu nổi bật

Ấn phẩm
Nghiên cứu cơ sở khoa học trong lựa chọn chỉ số cảnh quan phù hợp phục vụ công tác giám sát biến đổi cấu trúc rừng ngập mặn. Thực nghiệm tại rừng ngập mặn Mũi Cà Mau
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2019-12) Phạm Minh Hải; Đỗ Thị Hoài
Chỉ số (spatial metrics) được định nghĩa là các chỉ số cảnh quan để mô tả hình thái và cấu trúc của cảnh quan (O Neill và ctv, 1988). Các nghiên cứu đánh giá sự thay đổi cấu trúc rừng dựa trên ảnh vệ tinh sử dụng các chỉ số cảnh quan đang trở thành một xu hướng phổ biến trong nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của phân mảnh rừng tới các hệ sinh thái. Tuy nhiên cho tới hiện nay, sự tìm hiểu hiểu toàn diện về lý thuyết về sử dụng đúng các chỉ số cảnh quan phục vụ cho các mục đích trong các điều kiện khác nhau chưa được phổ biến. Có rất nhiều chỉ số cảnh quan đã được phát triển phục vụ phân tích cảnh quan như: phân tích biến động lớp phủ bề mặt, biến động đô thị và rừng. Do vậy, công tác nghiên cứu nhằm lựa chọn chỉ số cảnh quan phù hợp cho nghiên cứu biến động về cấu trúc rừng, đặc biệt là rừng ngập mặn, khi kết hợp với công nghệ viễn thám là một vấn đề đặt ra cần đượcquan tâm giải quyết. Mục tiêu của bài báo này này nhằm nghiên cứu cơ sở khoa học trong lựa chọn chỉ số cảnh quan phù hợp cho tiêu chí phân mảnh rừng phục vụ công tác giám sát biến đổi cấu trúc rừng ngập mặn. Nghiên cứu được thực nghiệm tại rừng ngập mặn Mũi Cà Mau.
Ấn phẩm
Khả năng tính toán phát thải khí các bon trong lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và rừng sử dụng dữ liệu ảnh viễn thám
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2019-12) Lê Quốc Hưng; Lê Quốc Hưng; Trần Thu Huyền
Việc tính toán phát thải khí nhà kính nói chung, phát thải các bon nói riêng trong lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp phục vụ tính toán phát thải khí các bon được khuyến cáo áp dụng công nghệ tiên tiến để xây dựng bộ dữ liệu đầu vào. Công nghệ viễn thám, bao gồmviễn thám vệ tinh và thiết bị bay không người lái, với ưu thế minh bạch, đa thời gian, độ phủ rộng là công nghệ hữu dụng trong hướng đi này. Bài báo tập trung vào khả năng tính toán phát thải khí thải khí nhà kính, đặc biệt là khí các bon trong lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và rừng trên cơ sở đề xuất quy trình và thử nghiệm sử dụng phần mềm ước tính phát thải khí nhà kính ALU với dữ liệu đầu vào chiết tách từ ảnh viễn thám. Kết quả được kiểm nghiệm và sử dụng trong báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ hai của Việt Nam cho Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu gồm nội dung, thông tin cập nhật kiểm kê khí nhà kính.
Ấn phẩm
Đo sâu địa hình đáy biển vùng nước nông bằng phương pháp đo ảnh lập thể sử dụng dữ liệu Worldview-2, thử nghiệm tại bãi Hải Sâm, quần đảo Trường Sa
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2019-12) Nguyễn Hà Phú; Nguyễn Hà Phú; Nguyễn Trọng Trường Sơn
Dữ liệu ảnh vệ tinh đa phổ đã được ứng dụng phổ biến trong đo sâu địa hình đáy biển vùng nước nông. Trước đây, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào phương pháp xác định độ sâu dựa vào các giá trị bức xạ trên ảnh. Tuy nhiên, với khả năng chụp ảnh lập thể trên cùng một quỹ đạo của vệ tinh WorldView-2, việc đo sâu địa hình đáy biển theo phương pháp tiếp cận đo ảnh lập thể đã được quan tâm nhiều hơn do ưu điểm không cần các trị đo ngoại nghiệp. Tiến hành thử nghiệm đối với khu vực bãi Hải Sâm thuộc quần đảo Trường Sa cho thấy sau khi hiệu chỉnh bức xạ do ảnh hưởng của sóngvà lóa sáng gây ra bởi phản xạ gương của ánh sáng mặt trời trên bề mặt biển cũng như hiệu chỉnhđộ sâu do khúc xạ tại bề mặt giữa hai môi trường nước và không khi thì khả năng đo sâu địa hình đáy biển bằng phương pháp đo vẽ lập thể sử dụng ảnh vệ tinh WorldView-2 được tăng cường đángkể với độ sâu tối đa có thể đạt đến là trên 42,0 m. Kết quả này cho thấyđo sâu địa hình đáy biển có thể áp dụng trong những điều kiện tương tự tại các đảo, đá và bãi ngầm tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Ấn phẩm
Đánh giá độ sâu bản đồ địa hình đáy biển và hải đồ dựa trên các mô hình mặt biển
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2019-12) Lương Thanh Thạch; Trần Văn Hải; Nguyễn Thị Hồng; Đỗ Văn Mong
Bài báo khoa học này trình bày kết quả xây dựng mô hình mặt biển thấp nhất khu vực trên vùngbiển Việt Nam và sử dụng mô hình mặt biển trung bình khu vực và mô hình mặt biển thấp nhất khuvực để đánh giá sự phù hợp của dữ liệu độ sâu bản đồ địa hình đáy biển và độ sâu hải đồ trong bài toán xác định độ sâu bản đồ địa hình đáy biển từ độ sâu hải đồ.
Ấn phẩm
Các phương pháp quan trắc trượt lở đất
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2019-12) Lê Thị Hà
Bài báo giới thiệu về các phương pháp quan trắc trượt lở đất đang được ứng dụng trên thế giới.Trượt lở đất là một dạng tai biến vừa có tính chất tiềm ẩn vừa có tính chất hiểm họa, nó gây ra nhiềuthiệt hại lớn và gây nguy hiểm đến tính mạng cũng như cuộc sống sinh hoạt của người dân. Vì vậyquan trắc trượt lở đất là rất cần thiết nhằm sớm phát hiện các chuyển vị và biến dạng. Trong bàibáo tác giả giới thiệu một số các thiết bị đo đạc và cách thức quan trắc chuyển vị độ dốc nhằm đưara các giải pháp hữu hiệu có thể áp dụng đối với địa hình phức tạp ở Việt Nam.
Ấn phẩm
Phóng sự tính chuyên nghiệp và Đạo đức
(Thông Tấn, 2003) M.I. Sostak; Lê Tâm Hằng; Ngữ Phan (dịch)