Tài liệu nổi bật

Ấn phẩm
Ứng dụng phương thức thu nhận thông tin địa lý tình nguyện phục vụ công tác điều tra cơ bản ngành tài nguyên và môi trường
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2022-12) Trần Tuấn Anh; Nguyễn Phi Sơn
Với sự phổ biến của công nghệ Web và thiết bị cầm tay có cảm biến vị trí, mọi người dân đều có thể tạo ra thông tin, dữ liệu về đối tượng, hiện tượng, quá trình tự nhiên xảy ra trên bề mặt đất và tình nguyện cung cấp cho cơ quan quản lý. Phương thức này được gọi là dịch vụ thông tin địa lý tình nguyện (Volunteered geographic information - VGI) và được đánh giá là hiệu quả, thiết thực, kinh tế, kịp thời và phù hợp với kỷ nguyên internet vạn vật. Nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng VGI trong điều tra, thu nhận thông tin địa lý để lập bản đồ. Đối với Việt Nam đây là một phương thức còn khá mới mẻ. Trong bài báo này, chúng tôi đề cập đến các vấn đề cơ bản của VGI trong thu nhận thông tin địa lý tình nguyện phục vụ điều tra cơ bản ngành tài nguyên và môi trường, bao gồm các vấn đề về nền tảng công nghệ, cộng đồng tình nguyện, loại thông tin dữ liệu và đặc biệt là chất lượng của VGI. Thông qua những vấn đề này, chúng tôi giới thiệu VGI như một cách tiếp cận bổ sung để hỗ trợ công tác điều tra cơ bản ngành tài nguyên và môi trường.
Ấn phẩm
Thành lập bản đồ phân bố nồng độ khí no2, so2 khu vực hà nội từ dữ liệu viễn thám Sentinel-5P
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2022-12) Đỗ Thị Phương Thảo; Nghiêm Văn Ngọ; Vũ Kim Sơn
Nitrogen dioxide (NO2) và sulfur dioxide (SO2) là những khí ga chính có khả năng gây ô nhiễm không khí ở nhiều khu vực đô thị và khu công nghiệp lớn ở Việt Nam. Do đó, việc giám sát được nồng độ khí NO2, SO2 một cách thường xuyên và trên diện rộng là cần thiết để giúp các nhà quản lý ra quyết định tìm kiếm một giải pháp bền vững về quản lý chất lượng môi trường không khí và cải thiện tình trạng sức khỏe người dân. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng dữ liệu từ vệ tinh viễn thám chuyên dụng Sentinel 5P của Cơ quan vũ trụ Châu Âu (ESA) để chiết xuất nồng độ của 02 loại nêu trên trong không khí khu vực Hà Nội năm 2021. Cách tiếp cận xác thực của dữ liệu thu được từ vệ tinh, dựa trên phân tích tương quan chéo với dữ liệu độc lập từ các quan sát trên mặt đất đã cho thấy hệ số tương quan (R2) đối với NO2 là xấp xỉ 0.7 và đối với SO2 là 0.78; cho thấy độ chính xác tính toán hàm lượng NO2 và SO2 từ dữ liệu Sentinel-5P ở mức khá. Kết quả cũng cho thấy, trong thời gian của năm 2021, giá trị NO2 và SO2 trong không khí ở khu vực Hà Nội đều ở mức tương đối cao.
Ấn phẩm
So sánh độ chính xác định vị điểm khi dùng sản phẩm vệ tinh của CNES VÀ CODE
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2022-12) Nguyễn Ngọc Lâu
CNES và CODE là 2 trong số những Trung tâm phân tích của IGS. Hiện nay cả 2 Trung tâm này đều cung cấp các sản phẩm vệ tinh chính xác hỗ trợ cho PPP-AR GPS và GALILEO. Để tìm hiểu về độ chính xác PPP-AR GPS+GALILEO cho giải pháp 24h, chúng tôi đã xử lý PPP 90 ngày dữ liệu từ 01/01/2022 đến 31/03/2022 của 4 trạm GNSS thường trực tại khu vực Đông Nam Á theo 2 phương án: dùng sản phẩm của CNES và CODE. Kết quả cho thấy dùng sản phẩm của CNES cho tỷ lệ giải đa trị tốt hơn (97.0% so với 94.4%), và độ chính xác định vị đạt (2.8, 3.1, 10.4) mm cải thiện hơn CODE lần lượt là (12, 30, 8)% tương ứng theo hướng Bắc, Đông và Độ cao.
Ấn phẩm
Nghiên cứu ứng dụng nền tảng google earth engine và bộ thư viện phân tích không gian turfjs trong giám sát nhanh khu vực ngập lụt tại Việt Nam
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2022-12) Nông Thị Oanh; Đinh Bảo Ngọc; Phạm Quang Hiển; Trần Tuấn Ngọc
Ngập lụt và hậu quả của nó đang trở thành mối quan ngại của nhiều địa phương trên cả nước. Với mục đích cung cấp giải pháp để hạn chế mức độ rủi ro, thiệt hại một cách hiệu quả của tai biến thiên nhiên nêu trên bài báo đã đề xuất quy trình công nghệ và xây dựng hệ thống trên công nghệ WebGIS sử dụng Google Earth Engine thu thập và phân tích dữ liệu trên ảnh viễn thám Sentinel 1 đa thời gian để thành lập bản đồ ngập lụt, đồng thời đưa ra các đánh giá hỗ trợ ước tính thiệt hại do lũ lụt gây ra. Hệ thống được xây dựng dựa trên nền tảng NodeJS hoàn toàn miễn phí; Dữ liệu của hệ thống được thu thập từ Google Earth Engine; lưu trữ sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu PostgreSQL và trực quan hóa sử dụng Mapbox.
Ấn phẩm
Hạ tầng công nghệ trong thành lập bản đồ thời gian thực
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2022-12) Đặng Hùng Võ; Trịnh Anh Cơ; Nguyễn Phi Sơn; Nguyễn Thanh Thủy
Hệ thống thành lập bản đồ thời gian thực là sự kết hợp giữa công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communication Technology - ICT), kỹ thuật bản đồ và phân tích không gian GIS (Geographical Information System) theo thời gian thực. Hệ thống này có kiến trúc bao gồm lớp cảm biến và cơ sở hạ tầng; lớp chức năng và dịch vụ; lớp ứng dụng và hiển thị trước khi phân phối đến người dùng. Sự phát triển của ICT và GIS đã tạo lập nên cơ sở để hình thành và phát triển một sản phẩm hiện đại của bản đồ học: Bản đồ thời gian thực, nhằm cung cấp kịp thời, nhanh chóng thông tin, dữ liệu gắn với không - thời gian của các đối tượng, hiện tượng, quá trình tự nhiên, môi trường và xã hội đến người dùng một cách trực quan, sinh động. Bài báo này giới thiệu hạ tầng công nghệ chính được phát triển, ứng dụng vào thành lập bản đồ thời gian thực và giới thiệu hệ thống xuất bản bản đồ tiếng ồn thời gian thực đã được Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ phát triển thành công năm 2021.
Ấn phẩm
Đánh giá tác động của hạn hán đến đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phù Cát và Phù Mỹ, Tỉnh Bình Định
(Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2022-12) Ngô Anh Tú; Phan Văn Thơ; Nguyễn Thị Tường Vi
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu sử dụng ảnh vệ tinh đa thời gian để xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ hạn hán dựa trên chỉ số khô hạn nhiệt độ - thực vật (TDVI), qua đó làm cơ sở để đánh giá tác động của hạn hán đến đất sản xuất nông nghiệp tại hai huyện Phù Cát và Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Kết quả phân tích từ ảnh vệ tinh cho thấy diện tích khô hạn nhẹ, khô hạn trung bình và khô hạn nặng có tỷ lệ tương đồng nhau giữa các loại đất sản xuất nông nghiệp. Trong đó tổng diện tích đất lúa 19.553,90 ha với diện tích khô hạn trung bình là 30,00 %, khô hạn nặng 11,00 %. Diện tích đất trồng cây hàng năm là 9.971,54 ha, trong đó diện tích khô hạn trung bình chiếm tỷ lệ lớn nhất với 42,66 % và khô hạn nặng là 20,07 %. Phần diện tích đất trồng cây lâu năm có tổng diện tích là 8.633,09 ha, trong đó phần khô hạn trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất với 42,91 % và khô hạn nặng là 20,81 %.