Bài trích

70554 ấn phẩm có sẵn

Những tài liệu tải lên gần đây

Đang hiển thị 1 - 6 của tổng số 70554 kết quả
Hiển thị
  • Ấn phẩm
    Lập bản đồ và đánh giá ô nhiễm tiếng ồn trong môi trường lao động dựa trên mạng nơ-ron hàm cơ sở xuyên tâm
    (Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2023-06) Đặng Đỗ Lâm Phương; Phạm Văn Mạnh; Nguyễn Việt Thanh; Phạm Thái Minh; Nguyễn Thị Diễm My; Đỗ Thị Nhung
    Kiểm soát tiếng ồn trong môi trường lao động là cần thiết cho sức khỏe con người và môi trường xung quanh. Mức độ tiếng ồn nguy hiểm, được coi là ngưỡng gây ra các vấn đề về tâm sinh lý cho người lao động. Mục đích của nghiên cứu này xây dựng bản đồ phân bố không gian mức độ tiếng ồn bằng số liệu đo được tính toán dựa trên mô hình tiếng ồn. Một khu công nghiệp sản xuất nhựa tại thành phố Hải Phòng đã được lựa chọn và mức áp suất âm thanh được đo tại 60 điểm riêng biệt tại khu công nghiệp. Các phép đo được tiến hành vào các khung giờ buổi Sáng (8h00 – 10h00) với mức độ tiếng ồn vào buổi sáng dao động từ 37,5 đến 95,2 dBA, buổi Trưa (11h30 – 13h30) dao động từ 17,0 đến 74,0 dBA và buổi Chiều (14h00 – 16h00) từ 38,7 đến 100 dBA. Dữ liệu mức tiếng ồn thu được của khu công nghiệp được lập bản đồ bằng mô hình mạng nơ-ron hàm cơ sở xuyên tâm (RBF). Kết quả chỉ ra rằng chất lượng môi trường lao động trong khu công nghiệp ở mức trung bình, có nghĩa là việc tiếp xúc với các mức độ này trong một thời gian dài có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người lao động. Đề xuất giải pháp khả thi để giảm mức độ tiếng ồn trong khu vực xuống các giá trị giới hạn cho phép nhằm nâng cao chất lượng môi trường lao động.
  • Ấn phẩm
    Đánh giá tác động của dự án đầu tư đến khu dự trữ sinh quyển thế giới sử dụng thuật toán học máy và độ đo cảnh quan
    (Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2023-06) Đỗ Thị Nhung; Phạm Anh Cường; Trương Quang Hải; Giang Văn Trọng; Phạm Hạnh Nguyên; Ngô Xuân Quý; Phạm Văn Mạnh
    Phát triển kinh tế xã hội là một trong những nhân tác thúc đẩy mạnh mẽ và nhanh chóng nhất đến thay đổi sử dụng đất có tác động đến môi trường sống và mẫu dạng cảnh quan. Để dự đoán và giảm thiểu những tác động này, các nhà quy hoạch môi trường và quản lý bảo tồn cần có các công cụ và phương pháp để có thể sử dụng ở giai đoạn lập kế hoạch ban đầu. Nghiên cứu này điều tra và lựa chọn các chỉ số độ đo cảnh quan để đánh giá tác động của dự án phát triển du lịch đến môi trường sống, sự phân mảnh và kết nối sinh thái. Khác với các nghiên cứu trước đây tập trung vào việc sử dụng các chỉ số không gian đơn lẻ để mô tả sự phân mảnh cảnh quan, nghiên cứu này đề xuất Chỉ số lượng hóa phân mảnh cảnh quan tổng hợp (OLFI) để phân tích và đánh giá tính không đồng nhất về không gian và thời gian của sự phân mảnh cảnh quan ở Vườn quốc gia (VQG) Núi Chúa - Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Nghiên cứu sử dụng thuật toán học máy để phân loại LULC với độ chính xác tổng thể đạt 92,84% và hệ số Kappa là 0,90. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khi có dự án phát triển du lịch mức độ tác động tăng đáng kể đến cấu trúc cảnh quan của khu vực VQG Núi Chúa. OLFI được xây dựng như là một chỉ số mới để lượng hóa sự tác động của các dự án đầu tư hay những tác động của con người đối với cảnh quan Di sản thiên nhiên và là tài liệu tham khảo cho các mục đích bảo tồn, lập kế hoạch sử dụng đất ở các khu vực tương tự khác tại Việt Nam và trên thế giới.
  • Ấn phẩm
    Đánh giá độ chính xác của mô hình độ sâu toàn cầu gebco2022 và topo-v25.1 trên biển đông
    (Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2023-06) Nguyễn Văn Sáng; Đỗ Văn Mong; Nguyễn Thị Thanh Hương
    Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá được độ chính xác của mô hình độ sâu đáy biển toàn cầu GEBCO2022 và TOPO-V25.1 trên Biển Đông. Để đánh giá độ chính xác, hai mô hình trên đã được so sánh với độ sâu đo trực tiếp để tính ra các yếu tố của độ lệch. Biểu đồ tần suất độ lệch được thiết lập. Tương quan giữa độ sâu đo trực tiếp và hai mô hình cũng được tính toán. Kết quả đánh giá cho thấy: Trên Biển Đông, mô hình độ sâu GEBCO2022 có độ chính xác là ±169,1 m, tốt hơn mô hình TOPO-V25.1 có độ chính xác là ±172,4 m. Độ lệch giữa các mô hình với độ sâu đo trực tiếp tuân theo quy luật ngẫu nhiên. Tương quan của hai mô hình này với độ sâu đo trực tiếp khá tốt. Các điểm có độ lệch lớn nằm ở những khu vực có địa hình đáy biển phức tạp, nhiều đảo ngầm, độ dốc lớn, địa hình đáy biển thay đổi đột ngột. Ở những khu vực địa hình đáy biển bằng phẳng, độ lệch nhỏ. Độ chính xác của mô hình GEBCO2022 và TOPO-V25.1 tốt ở thềm lục địa, nơi có địa hình đáy biển bằng phẳng, độ sâu từ -10 m đến -200 m. Ở khu vực sườn lục địa, nơi có độ dốc lớn, độ sâu trong khoảng từ -200 m đến -2000 m thì độ lệch trung phương tăng lên, đạt cực đại (±230 m) trong khoảng độ sâu (-1000 m ÷ -2000 m). Độ lệch trung phương giảm xuống ±120 m đối với vùng trũng sâu của Biển Đông.
  • Ấn phẩm
    Xác định vùng rủi ro về người do ngập lụt trên địa bàn huyện tuy phước, tỉnh bình định dựa trên công nghệ GIS
    (Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2023-09) Ngô Anh Tú; Võ Lê Hoài Mơ
    Bài báo nhằm giới thiệu ứng dụng kỹ thuật GIS tích hợp các hàm toán học để ước tính thiệt hại về con người trước mối nguy cơ do lũ lụt gây ra trên địa bàn huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, từ đó giúp chính quyền đề xuất các biện pháp ưu tiên cứu hộ, cứu nạn khi có thiên tai lũ lụt xảy ra. Kết quả tính toán của bài báo này theo kịch bản trận lũ lịch sử năm 2013 với tần suất lũ P=2% cho thấy trên địa bàn nghiên cứu, chỉ số rủi ro ngập lụt rất cao tập trung ở các xã nằm ở phía Đông Nam của huyện như xã Phước Hòa, Phước Sơn, Phước Thuận nơi có địa hình thấp và giáp với khu vực đầm Thị Nại. Ngược lại, vùng có rủi ro thấp thuộc xã Phước thành, Phước Hưng và Phước Quang nằm ở phía Tây Bắc của huyện nơi có địa hình tương đối cao hơn. Độ chính xác của kết quả tính toán ước tính thiệt hại về con người do ngập lụt khoảng 70%.
  • Ấn phẩm
    Trích xuất thông tin nguồn nước bề mặt trong đô thị tại thành phố hồ chí minh từ ảnh sentinel-2 sử dụng thuật toán phân cụm k-means
    (Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2023-09) Phan Thị Anh Thư; Nguyễn Tuấn Kiệt; Trần Thành Long
    Sự hiện diện của các nguồn nước bề mặt như sông, hồ và các nguồn nước khác có vai trò quan trọng trong việc điều hòa nhiệt độ và duy trì cân bằng sinh thái trong hệ thống đô thị. Việc quan trắc và đánh giá chính xác sự phân bố của các nguồn nước bề mặt trong đô thị, đặc biệt với độ chính xác cao, trở thành một yếu tố quan trọng để quản lý hiệu quả môi trường đô thị. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang gia tăng, đô thị đang phải đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm hiện tượng đảo nhiệt đô thị. Sự hiện diện của các nguồn nước bề mặt có thể giúp giảm thiểu hiện tượng này bằng cách tạo ra các vùng mát mẻ và cân bằng nhiệt độ. Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho môi trường mà còn góp phần vào sự bền vững và an toàn của đô thị trong tương lai. Nghiên cứu này trình bày một thuật toán tự động trích xuất thông tin các nguồn nước bề mặt đô thị. Phương pháp đề xuất đã được kiểm tra trên dữ liệu Sentinel-2 với độ phân giải không gian 20 mét và có thể áp dụng trên phạm vi rộng lớn. Phương pháp sử dụng thuật toán phân cụm K-means để tiến hành phân loại tự động các ảnh được tính theo chỉ số NDWI, MNDWI và tỷ số tích hợp. Nghiên cứu đã được thực hiện tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Số lượng lớp tối ưu cho K-means trong theo phương pháp đề xuất là 6. Kết quả đánh giá độ chính xác cho thấy rằng phương pháp đề xuất phù hợp để trích lọc thông tin các nguồn nước bề mặt nhanh chóng và chính xác.
  • Ấn phẩm
    Nghiên cứu ứng dụng kết hợp công nghệ viễn thám và thuật toán học máy multiple linear regression trong thành lập bản đồ phát thải bụi mịn PM2.5
    (Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2023-09) Vũ Ngọc Phan; Phạm Minh Hải
    Ô nhiễm môi trường không khí gây ra rất nhiều hậu quả cho con người. Chúng là tác nhân gây nên cái chết cho hàng triệu người mỗi năm. Theo WHO, ô nhiễm môi trường không khí gây ra 7 triệu ca tử vong mỗi năm, trong đó Châu Á - Thái Bình Dương chiếm khoảng 4 triệu ca. Trong đó, ô nhiễm bụi mịn PM2.5 chính là thủ phạm gây ra nhiều ca tử vong nhất. Mục tiêu bài báo này là phát triển giải pháp thành lập bản đồ phát thải bụi mịn PM2.5 ứng dụng kết hợp công nghệ viễn thám và thuật toán học máy Multiple Linear Regression. PM2.5 là những hạt bụi li ti có trong không khí kích thước đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 2.5 µm. Loại bụi này hình thành từ các chất như Carbon monoxide (CO), Sunphua điôxit (SO2), Nitơ điôxit (NO2) và các hợp chất kim loại khác, lơ lửng trong không khí. Việc tính toán PM2.5 trong mối quan hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc PM2.5 và các biến độc lập CO, SO2, NO2… (biến dự đoán) dựa trên thuật toán học máy Multiple Linear Regression có cơ sở khoa học và thực tiễn cao. Kết quả thực hiện của nghiên cứu này cung cấp giải pháp thành lập bản đồ phát thải bụi mịn PM2.5 mang tính tự động hóa cao dựa vào số liệu viễn thám và các thông số quan trắc không khí mặt đất.