Bài trích

70601 ấn phẩm có sẵn

Những tài liệu tải lên gần đây

Đang hiển thị 1 - 6 của tổng số 70601 kết quả
Hiển thị
  • Ấn phẩm
    Xây dựng quy trình xác định một số thông số chất lượng nước từ ảnh viễn thám quang học Sentinel 2 và số liệu quan trắc
    (Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2022-09) Đinh Lam Thắng; Đinh Thị Thu Hiền; Chu Việt Thức; Trịnh Lê Hùng; Nguyễn Thị Thu Nga
    Xác định các thông số chất lượng nước mặt từ dữ liệu viễn thám là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Bài báo này trình bày kết quả xây dựng quy trình xác định một số thông số chất lượng nước mặt, bao gồm độ đục, COD, BOD5, NH4+ từ ảnh vệ tinh quang học độ phân giải cao Sentinel 2 MSI và số liệu quan trắc, thử nghiệm cho khu vực sông Hồng và sông Đuống đoạn chảy qua thành phố Hà Nội. Kết quả nhận được trong nghiên cứu có thể sử dụng phục vụ theo dõi sự thay đổi hàm lượng các thông số chất lượng nước mặt, cung cấp thông tin đầu vào kịp thời phục vụ công tác quản lý, giám sát chất lượng nước mặt ở các lưu vực sông.
  • Ấn phẩm
    Xây dựng mô hình số địa hình tại khu vực đô thị từ dữ liệu Ảnh DJI Phantom 4 RTK
    (Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2022-09) Trần Trọng Đức
    Quá trình xử lý để thành lập Mô hình số bề mặt địa hình (DTM) từ dữ liệu ảnh chụp của máy bay không người lái Phantom 4 RTK được trình bày trong bài báo này. Vị trí của camera ghi lại trong nhiệm vụ bay được xử lý kết hợp với số liệu đo GNSS tại trạm tĩnh trong phương pháp đo động hậu xử lý để đạt được vị trí bay chụp có độ chính xác cao. Mô hình ảnh 3D được xây dựng từ các ảnh chụp 2D có độ phủ chung sử dụng phương pháp Tạo Cấu trúc từ Chuyển động (Sfm). Ba điểm khống chế ảnh được đo với độ chính xác cao được sử dụng để địa tham chiếu chính xác mô hình ảnh 3D. Sai số căn chỉnh tổng hợp của mô hình ảnh 3D đạt xấp xỉ 2.7 cm. Từ mô hình 3D, các điểm chi tiết bề mặt đất đã được xác định trên cơ sở kết hợp phương pháp Classify Points và phương pháp Classify Ground Points và được sử dụng để tạo mô hình DTM. Năm điểm địa vật tại các vị trí không bị che khuất được sử dụng để đánh giá độ chính xác vị trí có sai số vị trí tổng hợp về độ lớn đạt xấp xỉ 2.5 cm. Mười bốn điểm địa vật tại các vị trí bị che khuất được sử dụng chỉ để đánh giá sai số độ cao có sai số độ lệch chuẩn xấp xỉ 0.147 m. Kết quả cho thấy i) tại vị trí thông thoáng ảnh chụp từ Phantom 4 RTK có thể cho phép tạo ra bề mặt 3D với độ chính xác ở cấp độ centimet ii) còn tại vị trí bị che khuất, độ chính xác trong tạo DTM lệ thuộc vào phương pháp phân loại xác định các điểm thuộc bề mặt đất.
  • Ấn phẩm
    Xây dựng cơ sở dữ liệu tổng lượng điện tử tự do và lượng hơi nước tích tụ từ dữ liệu đo GNSS trên lãnh thổ Việt Nam
    (Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2022-09) Lại Văn Thủy; Đặng Xuân Thủy; Lê Thị Tuyết Nhung
    Bài báo này giới thiệu giải pháp xây dựng và cấu trúc của cơ sở dữ liệu quản lý tổng lượng điện tử tự do và lượng hơi nước tích tụ trên lãnh thổ Việt Nam. Trên cơ sở ứng dụng giải pháp lập trình C# và hệ quản trị dữ liệu mở PostgreSQL và GeoServer làm DataServer, xây dựng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu tổng lượng điện tử tự do và lượng hơi nước tích tụ trong chuỗi thời gian liên tục và tức thời nhằm đáp ứng các yêu cầu nâng cao độ chính xác định vị vệ tinh, dự báo thời tiết tức thời và phục vụ nghiên cứu, phân tích hoạt động khí quyển và các ứng dụng khác.
  • Ấn phẩm
    Nghiên cứu kết hợp thuật toán k-means và quickshift trong tự động phân loại lớp phủ mặt đất từ ảnh vệ tinh VNREDSat-1
    (Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2022-09) Đặng Nguyễn Hiền Dương; Đinh Ngọc Đạt; Doãn Minh Chung; Huỳnh Xuân Quang; Mai Thị Hồng Nguyên
    Phân loại lớp phủ từ dữ liệu ảnh vệ tinh quang học đóng vai trò quan trọng trong nhận diện các biến động của các đối tượng trên bề mặt Trái Đất. Đây là nguồn dữ liệu giúp ích rất nhiều cho quá trình theo dõi và quản lý tài nguyên thiên nhiên, đánh giá tác động của thiên tai... Các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước chủ yếu tiếp cận các thuật toán phân loại thông dụng (K-Means, Iso Data, Random Forest…) để nhanh chóng thu được dữ liệu lớp phủ phù hợp với mục tiêu đã đặt ra. Việc đánh giá các phương pháp này rất cần thiết để đưa ra những lựa chọn phù hợp nhất cho từng bài toán phân loại riêng biệt. Thử nghiệm các thuật toán phân loại khác nhau như K-means và Quickshift trên cùng một ảnh VNREDSat-1 cho phép cải thiện độ tin cậy của kết quả phân loại. Từ đó, xem xét việc kết hợp ưu điểm của hai thuật toán phân loại này với các nghiên cứu tương tự sử dụng phân tích phổ (như thuật toán WiPE) để đề xuất phương án tốt nhất cho xây dựng thuật toán phân loại lớp phủ tự động có thể sử dụng cho tất cả các ảnh chụp từ vệ tinh VNREDSat-1.
  • Ấn phẩm
    Nâng cao độ chính xác phân loại ảnh viễn thám bằng phương pháp kết hợp phân loại dựa trên đối tượng và phân loại dựa trên điểm ảnh
    (Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2022-09) Nông Thị Oanh; Trần Xuân Trường; Vũ Thị Tuyết; Tạ Hoàng Trung
    Ảnh viễn thám đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc cung cấp thông tin giám sát bề mặt trái đất. Để tận dụng tối đa nguồn dữ liệu này, các phương pháp phân loại ảnh viễn thám ngày càng trở nên thông minh, hiệu quả hơn, góp phần chuyển đổi thông tin trên ảnh thành các thông tin có giá trị. Phương pháp phân loại dựa vào đối tượng (Object-based) đã chứng minh được tính chính xác của nó so với phương pháp phân loại từng điểm ảnh. Tuy nhiên phương pháp này thường được áp dụng trên các ảnh vệ tinh độ phân giải cao mà chưa áp dụng phổ biến trên ảnh vệ tinh độ phân giải trung bình, hơn nữa việc sử dụng kết hợp cả hai phương pháp phân loại cũng chưa được thử nghiệm nhiều. Nghiên cứu này kết hợp phương pháp phân loại dựa vào đối tượng và phương pháp phân loại dựa vào điểm ảnh nhằm nâng cao độ chính xác phân loại. Kết quả cho thấy việc kết hợp cả 2 phương pháp cho phép cải thiện độ chính xác tổng thể phân loại 20% khi sử dụng ảnh độ phân giải 10m.
  • Ấn phẩm
    Giải pháp xử lý dữ liệu tích hợp phục vụ xây dựng mô hình mặt biển
    (Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, 2022-09) Lương Thanh Thạch
    Bài báo đã phân tích hiện trạng cơ sở toán học của các nguồn dữ liệu khác nhau (dữ liệu toàn cầu và dữ liệu quốc gia) được thu thập phục vụ xây dựng một số mô hình mặt biển. Trên cơ sở phân tích các ưu - nhược điểm của một số giải pháp, tác giả đã đề xuất lựa chọn hệ tọa độ quốc tế WGS84 và hệ độ cao quốc gia Hòn Dấu (HP72) làm cơ sở toán học để xây dựng các mô hình mặt biển. Kết quả thực nghiệm cho thấy phương án đề xuất là phù hợp với thực tiễn và mang tính khả thi cao.